10 lần làm tình, cảm giác tái nghiện hay là cách xoa dịu những cơn đau?

Cory Monteith đã chết, ở độ tuổi 31, vì rượu và ma túy.

Tôi còn nhớ, đó một ngày tối trời mùa đông xám xịt và ảm đạm, ở độ tuổi 20, lần đầu tiên tôi tiếp xúc với ma túy. Thực ra, cho đến hiện tại, tôi cũng chỉ là một kẻ quan sát và chiêm nghiệm tầm thường, chưa từng trải qua thứ náo loạn tuổi trẻ đầy đam mê và kỳ quặc nó. Tôi chỉ xem nó như một thứ thánh giáo đầy ma lực, nó tồn tại ở đó, song song với những nghiện ngập kỳ quặc khác của con người, bị ruồng bỏ ở giữa thế giới mà con người ham sống nhưng luôn lao đầu vào những thứ hành động bản năng khiến mình chết dần chết mòn này…

Tôi quen K qua một trang web, rồi hẹn gặp ở một cung đường vắng tại quận 10. Sau khoảng chừng chục cái hẻm nhỏ ngoằn nghèo, K dẫn tôi đến được nhà D. Ở đó, K và D xúm xít quanh một chiếc bình nhỏ, bằng thủy tinh, có hai đầu nhỏ, một ít bột trắng và một cây khò lửa. Lúc đó, không khí trong phòng luôn lẩn quất một thứ mùi vị kỳ quặc của tinh dịch, mùi gỗ thông còn nguyên mới, và mùi của sự u tối vây quanh con người. D và K không nói gì nhiều về việc tôi không cùng họ hít đá. Tôi chỉ đơn giản là ngồi đó, nhìn, cảm thấy tò mò, buồn cười và hơi bất an trong bụng.

Buổi tối hôm đó đã trôi qua không hề nhẹ nhàng, nhưng về bản chất, tôi mừng là mình đã cưỡng lại được sự cám dỗ, cái thôi thúc của trí tò mò, thứ đã giúp con người tàn phá thế giới. Về sau, khi có dịp tiếp xúc với những bạn chơi đá thường xuyên, tôi vẫn thường ngỏ ý muốn ngắm chiếc bình của họ rõ ràng hơn. Mỗi chàng trai có một kiểu dùng bình rất riêng, có người rất tỉ mỉ, nhẹ nhàng, nâng niu nó như một thứ thánh vật, có người bỏ lăn lóc như một thứ sex toy đã dùng qua, khi nào cần chỉ cần vơ tay một phát để cầm lên dùng tiếp. Một chàng trai màu mè, hoa mỹ, hẳn sẽ không bao giờ chịu dùng một cái bình xấu xí, đầy những vết hàn, mà chiếc bình của họ trong phải thật luxury, độc đáo và phá cách.

Ma túy đá xâm nhập vào Việt Nam chưa được chục năm, đánh rớt “thuốc lắc” và coke xuống hàng thứ cấp vì tác dụng của đá mang tính kích thích mạnh mẽ hơn, kéo dài hơn mà cũng nhẹ nhàng hơn, ít bị sốc hơn. Người dùng thuốc lắc hay coke rất dễ rơi vào trạng thái sốc thuốc quá mãnh liệt, không kiềm chế được bản thân, chảy máu và co giật, còn đá chỉ đơn giản là kích thích sự sung sướng trong những giác quan hạnh phúc tăng lên gấp bội, và dĩ nhiên, cũng chỉ tàn phá hệ thần kinh hạnh phúc này của con người. Một kiểu tàn phá vô hình mà êm dịu, nó không trực diện mà mang tính gián tiếp, không xiên vào con người như một vết dao đâm mà là một cái xiết cổ từ từ, dần dần bó chặt…

Khi đọc những quyển sách mô tả cẩn thận và hay ho về ma túy, tôi vẫn hay thắc mắc liệu các nhà văn có thực sự đã từng dùng thuốc không? Frederic Beigbeder thì chắc là có. Quyển gần nhất của anh chàng này mà tôi đọc được là Một tiểu thuyết Pháp. Ngay cảnh đầu tiên, Frederic đã mô tả cảnh mình, một nhà văn nổi tiếng, bị cảnh sát bắt vì dám ngang nhiên hít coke ngoài đường, ngay trên nắp capo của một chiếc xe đắt tiền. Hay trong một quyển sách khác, 99 franc, Frederic thủ vai một nhân viên ngành quảng cáo, hít coke sống qua ngày, hít đến nỗi một hôm nọ trong lỗ mũi ở đâu tự nhiên trào ra một dòng máu tươi không kiềm lại được. À, là do loại cocaine Paris bị pha trộn quá nhiều.

Janusz Wieniawski thì khác, ông viết về ma túy như một thứ thần dược. Trong Cô đơn trên mạng, Januz mô tả con người bỗng trở thành một siêu nhân, có thể lấy lại được 24 giờ sức lực trước đó để lao đầu vào công việc trở lại ngay lập tức. Một kiểu hạt đậu thần trong quyển truyện tranh Sôn Gô Ku. Cách viết của Januz khiến người ta không khỏi sùng bái ma túy. Càng khinh ghét nó, người ta càng thích thú trước sự biến ảo kỳ diệu của nó. Về mặt cơ bản, ma túy làm dịu cơn đau. Chính xác là mọi cơn đau: kể cả thể chất lẫn tinh thần.

Đó cũng chính là lý do mà các nhân vật trong Như không hề có của Bret Easton Ellis chọn cho mình để bước đến ma túy. Về mặt cơ bản, những nhân vật của Bret là giống với giới trẻ ngày nay nhất. Nhai ma túy như nhai một thứ kẹo dẻo giúp họ sống qua ngày, càng dấn thân vào càng thấy chúng thiết yếu. Không phải là nghiện, mà chỉ đơn giản là thấy cần thiết. Như việc bạn tập cho mình thói quen ăn sáng vào mỗi buổi sớm, quất người yêu trước khi đi làm, ra ngoài ngoại tình vào lúc 12h đêm. Nói chung, đã là thói quen thì khó bỏ, vì có bỏ thì nó vẫn là một phần trong bạn…

Có một lý thuyết mà tôi được dạy khi còn học về ma túy ở trường: mỗi loại thuốc có một liều lượng gây nghiện khác nhau. Đá (Meth, hay các loại ma túy tổng hợp nói chung) là nhẹ nhất. Thuốc lắc cũng đơn giản dễ bỏ. Coke gây nghiện mạnh còn Heroin gây nghiên mãnh liệt nhất, chỉ cần hít một ít là đủ để nó bám đuổi bạn dai dẳng đến cuối đời. Còn những người đã từng dùng qua thuốc, ít nhất là khi họ còn tỉnh táo, đã luôn miệng nói rằng thực ra tất cả các loại thuốc gây nghiện đều có thể bỏ được dễ dàng. Cũng như danh sách trên, đá dễ bỏ nhất (thậm chí ko gây nghiện), coke cũng bình thường. Với heroin, đôi khi bạn sẽ phải trải qua một quá trình dằn vặt, nhưng vẫn tự bỏ được.

Trong Sáu người đi khắp thế gian, bạn sẽ thấy rằng tác giả đã dùng hầu hết thời gian rảnh của các nhân vật trong truyện chỉ để cho họ làm một chuyện: hít cần sa. Trong số đó, có một vài bạn trẻ bị “leo thang” lên đến heroin, ban đầu là hút, sau đó là chích. Chỉ có điều, một vài người đã may mắn thoát khỏi được nó, sau một vài lần hít. Đơn giản là thoát khỏi, quên nó đi, như khi bạn nhổ ra một món ăn không hợp, trả bill tính tiền rồi vùng vằng về nhà. Không vấn đề gì cả. Dĩ nhiên, cũng có nhân vật trong quyển sách này đã không thể rời bỏ heroin, tiến sâu vào quá trình chích choác. Nhưng vì tác giả đã kể truyện với giọng văn của người thứ ba, dùng một nhãn quang ngoài cuộc để chiếu rọi vào một người trẻ dùng heroin, nên chúng ta đã chẳng thể nào biết được, liệu cô ấy có từng đấu tranh để được thoát ra hay ko, hay là, cô ấy hạnh phúc với toàn bộ hành trình nghiện ngập đó?

Có một bộ phim về ma túy mà tôi rất thích, là Requiem for a dream (Lễ cầu siêu cho một giấc mơ). Trong phim này, cả người mẹ, cậu con trai và bạn gái của cậu ấy, đều bị dính vào ma túy. Thứ ma túy chắp cánh cho những ước mơ của họ: sự nổi tiếng của người mẹ, một cửa hiệu riêng cuả cô bạn gái và cuộc sống sung túc của người con. Nhưng dĩ nhiên, vì nó là một bộ phim vô cùng bi kịch, nên rốt cuộc cái thứ ước mơ được ma túy chắp cánh đó, nó chẳng đi tới đâu cả.

Trong quá trình tìm hiểu về căn bệnh ung thư, tôi nhận thấy, 90% bệnh nhân ung thư về cuối đời đều phải cần đến sự hỗ trợ của thuốc phiện morphine. Như đã nói ban đầu, thứ quyền năng vô hạn của ma túy là giúp co người làm dịu cơn đau, nhưng cơn đau khiến chúng ta không còn khả năng tập trung vào bất cứ thứ gì khác ngoài nó. Không có thuốc phiện, còn bao nhiêu giọt nước mắt sẽ chảy xuống chân người?

Một trong những điều gây sốc ở cái chết của Cory, là anh vừa trải qua một đợt cai nghiện tưởng đã thành công vào đầu năm nay. Tại sao anh tái nghiện? Tại sao anh dùng quá liều? Đó vẫn là một câu hỏi lớn. Nhưng trước hết, hãy thấu hiểu được rằng quá trình tái nghiện là một quá trình trộn lẫn giữa cảm giác hồi sinh và đào bới những ký ức. Nó như một chuyến tàu du hành ngược thời gian, một cuộc yêu bền bỉ vốn chưa bao giờ tắt qua năm tháng. Hãy tưởng tượng, bạn rời xa một người mình yêu thương vào năm 18 tuổi. Năm tháng qua đi, tưởng mọi thứ đã phai nhạt. Để rồi khi gặp lại người đó ở độ tuổi 30, hoặc 40, bạn nhận ra một sự thật kinh hoảng rằng mình chưa bao giờ thôi yêu người ấy, tim bạn vẫn đập như lần đầu tiên, tay bạn vẫn run như lần đầu tiên, môi bạn vẫn ướt như lần đầu tiên…

Tái nghiện, dù là nghiện bất cứ cái gì, cũng giống như việc ngủ lại với người yêu cũ. Những cảm giác thân thuộc tràn về, khó phai…

À, trở lại cái đêm mưa gió khi lần đầu tiên nhìn thấy chiếc bình đập đá hôm ấy. Tôi đã không ngủ suốt đêm chỉ để chong đèn đọc sách về ma túy, rồi biết được rằng: số noron thần kinh hạnh phúc mà mỗi lần đập đá giúp bạn tiết ra là cao gấp 10 so với một lần lên đỉnh trong cuộc làm tình bình thường. Tức ra, hít một hơi đá, bạn sướng bằng 10 lần làm tình. Điều quái ác ở đây là, việc “lên đỉnh” một cách máy móc và nhân tạo như việc sẽ làm ức chế vùng thần kinh dưới đồi, khiến cho nó không thể tự tiết ra dopamine được nữa, điều đó có nghĩa là nếu dùng đá quá nhiều, vào một ngày đẹp trời nào đó, bạn sẽ không thể lên đỉnh mà không có thuốc…

Thế quái nào mà mình lại cần lên đỉnh 10 lần trong một đêm chớ hả? Phiền chết được ý. 1,2 lần thôi là đủ rùi nhé

Review đôi: The Fault in Our Stars aka Khi lỗi thuộc về những vì sao

Dạo này lười viết review lắm mà không viết review thì chạ biết viết gì. Túm lại là viết gì cũng cần gồng nội công nhưng dạo này nội công hơi yếu, chỉ thích ăn chơi nhảy múa rồi nằm phè ra đó tận hưởng và gặm nhấm những cảm xúc của riêng mình thôi. (Có lẽ) già thật rồi!

Nhân dịp đang đọc Núi thần (Thomas Mann) dày cồm cộm và hơi khó nuốt nên nuốt mãi chưa trôi, mình bèn chuyển qua đọc Giết con chim nhại của Harper Lee. Đọc Giết con chim nhại nhẹ nhàng, tươi tỉnh xong thì lại muốn tìm một quyển tương tự để đọc. Thế là chọn The Fault in Our Stars. Trước hết phải nói là mình đánh giá Giết con chim nhại ở một bậc cao hơn The Fault in Our Stars rất nhiều, tuy nhiên, nếu chỉ xét riêng về giọng văn thì cả hai đều có một vài điểm khá tương đồng, trong đó điểm quan trọng nhất là được viết dưới nhãn quan của một cô gái trẻ. Mà góc nhìn của gái thì lúc nào cũng dịu dàng, dung dị nhưng cũng rất sâu sắc, túm lại là duyệt.

The Fault in Our Stars aka Khi lỗi thuộc về những vì sao thì mọi người chắc xem nát nước hết cả rồi, không sách thì phim. Cá nhân mình đọc sách một lèo xong thấy rất good thì chuyển sang xem phim luôn. Cái hay của việc xem sách – phim nối tiếp này là cảm xúc của mình được đẩy lên thành hai bậc. Bậc ban đầu nằm ở thế giới quan trong đầu và trí tưởng tượng, và bậc thứ hai là được một người (đạo diễn) giúp mình cụ thể những suy nghĩ và quan sát từ quyển sách. Xem phim được chuyển thể từ sách cũng là một cách để quan chiếu xem hệ tư tưởng của mình và hệ tư tưởng của người ta khác nhau thế nào. Ví dụ khi đọc sách mình tưởng tượng Hazel là một cô gái thế này, thế này mà khi lên phim lại thấy thế nọ, thế nọ, dù rất khác quan điểm nhưng lại bỗng thấy rất thú vị.

http://widimg2.s3.amazonaws.com/products/635323983255010110_x640.jpg

Nói trước về sách: Tác giả John Green trước hết là có một câu chuyện sáng tạo. Sáng tạo chứ không độc đáo vì đề tài bệnh hoạn hay ung thư kỳ thực không phải là hiếm, chuyện hai đứa bệnh yêu nhau thì lại càng nhiều. Cái sự lý thú nhất mà John Green đem tới cho quyển sách này là ông đã khéo léo lồng ghép câu chuyện về “điều ước” được đến Hà Lan cùng với một mục tiêu chung có phần hơi… lộn xộn vào tình yêu của đôi trai gái trẻ, từ đó phát triển ra những tình tiết, câu chuyện khá phức tạp và nhiều ẩn dụ. Nói chung câu chuyện của The Fault in Our Stars không đi theo tuyến tính kiểu chick lit thông thường (dù giọng văn đôi khi mang lại cảm giác rất chick lit) mà theo mình là có phần hơi… trinh thám, tạo cảm giác hồi hộp và mang đến độ gằn về tâm lý, dù không nhiều.

Nói chung đây là một quyển sách “đẹp”, dễ đọc, tạo cảm hứng và rất duyên. Một vài chỗ có hơi lên gân và triết lý, cộng thêm một vài đoạn bị chuyển ngữ chưa mượt khiến mình thấy khó chịu một tý, nhưng thôi có thể bỏ qua. Truyện cũng khó lòng có thể gọi là kết thúc vui hay buồn, vì bản thân nó đã buồn sẵn rồi mà ai coi mấy trang đầu xong thì cũng dễ đoán được phần nào rốt cuộc là nó dẫn đến đâu.

Đây là một quyển sách mà mình khuyên mọi người “nên dùng”, ở mọi lứa tuổi, từ 16 cho đến 60. Hiện đại, trẻ trung và phóng khoáng. Dĩ nhiên, nó một phần cũng khiến chúng ta hiểu hơn về ung thư (dù một số phương pháp y khoa và định nghĩa y khoa trong đây là hư cấu) và cảm giác của những người đang đối mặt với nó. Một trong những cảnh thú vị nhất trong sách (và cả phim) với mình là phân đoạn Hazel, Gus và Isaac cùng đến nhà Monica để chọi trứng vào xe cô ta. Và khi mẹ Monica ló đầu ra để rồi thấy một “binh đoàn” ung thư đứng trướccửa nhà mình quậy phá thì đã lặng lẽ chui vào, không biết vì sợ hay vì nhường. Mà vì sợ hay vì nhường thì đó cũng là một hành động rất dễ thương :p

http://37.media.tumblr.com/ed76b0b17b8d489c61d0daa3fae7f262/tumblr_mydouiYnl31sfevmio2_500.jpg

Về phim: The Fault in Our Stars có được một kịch bản chuyển thể khá tốt, tinh gọn, đủ ý, cắt được những râu rìa cần cắt và giữ lại được những thứ cần giữ. Một số trường đoạn dài dòng trong sách được “túm lại” khá cao tay, ví dụ như đoạn cuối khi lão nhà văn Van Houten sang Mỹ để tìm gặp Hazel. Khúc này lúc bắt đầu xem phim mình rất lo không biết đạo diễn xử lý thế nào vì cao trao mạnh nhất của quyển sách đã xảy ra trước đó khá lâu, nếu cứ lê thê mãi thì chán lắm. Nhưng rốt cuộc mọi thứ lại được xử rất “đẹp”.

Shailene Woodley trong vai Hazel và Ansel Elgort trong vai Gus là một bộ đôi “hơi bị đẹp” so với mức tưởng tượng của mình sau khi đọc xong. Ờ thì phim Hollywood nên phải lung linh tý, cho nên Gus không gầy còm như truyện mô tả mà tướng tá rất good, body rất đẹp, vòm ngực săn chắc (thấy được qua cảnh giường chiếu, dĩ nhiên), còn Hazel cũng không gầy còm, yếu ớt gì. Có lẽ vì phim tuổi teen nên đạo diễn cũng không quá khắc khe chuyện ngoại hình, chứ mà bắt mỗi đứa giảm 10kg thì chắc lại thành dark drama rồi chứ không thể nào là romantic movie được. Dù vậy thì mình vẫn không thích cách làm của ê-kíp ở chỗ hơi lơ là mảng hóa trang. Cả Gus và Hazel khi trở bệnh nặng đều vẫn trông rất tươi nên dòm không bệnh gì cả. Và cả khi nguyên cái group ung thư ngồi họp mặt cũng không thấy ai bệnh hoạn gì sất. Có lẽ đạo diễn muốn mang lại chỉ toàn những hình ảnh tốt đẹp chăng?

Shailene Woodley diễn tốt, vừa tiểu thư vừa mạnh mẽ. Mình đã kết em này từ hồi ẻm diễn trong The Descendants rồi, rất vừa phải, không over cũng không quá đơ. Ansel Elgort rất dễ thương. Gương mặt em trai này thường hay bị dìm làm vai phụ nhưng khi đóng chính vẫn cứ tuyệt như ai. Cả hai lúc mặc đồ cặp màu blue đi trên phố ở Amsterdam, Hà Lan làm mình ngây ngất choáng hết cả váng. Dễ thương cực, nhất là cái ống oxy trên mũi của Hazel, hehe.

Cả phim lẫn sách nói chung là một bộ đôi tròn trịa, đáng để lưu giữ và ghi nhớ. Quan trọng là xem xong mình cũng thấy vui vui. Đọc sách, xem phim, nhiều khi chỉ cần có vậy là đủ ;)

Đừng nhảy qua miệng hố

Chuyến đi đầu năm về phía đảo chỉ có ba người.

Đây hình như không phải lần đầu tiên cả nhà đi chơi mà vắng bóng ba. Ba mất cũng lâu rồi, giỗ đầu cũng qua. Nhưng thỉnh thoảng nghĩ lại mình vẫn thấy như mới chỉ hôm qua. Căn bản là vì thời gian trôi nhanh quá, ngẩng mặt đã thấy vài năm trôi tuột qua, để lại cũng nhiều thứ, trong đó có cả khoảng trống.

2015-01-02 09.24.25

Mà thôi, chuyện vắng ba trong một chuyến đi chơi không phải là thứ mình muốn nghĩ ngợi lúc này mà là chuyến mối quan hệ đang ngày càng gai góc giữa mẹ và em. Thằng nhóc, u20, đang trong độ tuổi bới móc và tìm hiểu cuộc sống của đời mình. Mẹ, u60, vẫn còn tươi tỉnh, trẻ trung và mạnh khỏe, nhưng dĩ nhiên là không thể lúc nào cũng cuồng vội, ồn ào, náo nhiệt được. Kẹp giữa là mình, u30, may quá chưa tới thời kỳ midlife crisis, không thì có vẻ khá bi kịch

Căn bản là dòm mẹ với thằng em cứ chỏi nhau chan chát bỗng khiến mình nghĩ về nhiều thứ. Thực tế thì thằng em không gai góc bằng mình ngày xưa. Nhớ năm 18 tuổi, suốt quãng thời gian ít nhất là 6 tháng trước khi lên đường đến sg, mình và mẹ cứ cãi nhau suốt. Cãi rất to, kiểu con muốn sống cuộc đời của con và mẹ muốn con sống cuộc đời của mẹ. Chẳng ai nhịn ai. Mình và mẹ vốn khá giống tính nhau, tương đồng về sở thích, nhưng chắc trong mình có đâu đó một cọng dây bị chạm mạch, khiến cho mọi thứ lệch pha đến nỗi cả thế giới dường như bị xô nghiêng đi. Nhiều lúc nhìn lại, suốt một quãng thời gian qua, đôi lúc mình thấy tội cho mẹ vì có đứa con như mình, đã không được bình thường như người ta, lại thích chơi trội. Túm lại là rất khó nắm bắt, hay cãi, làm chuyện tào lao, dường như không sống được cho gia đình ngày nào. Vân vân…

Cho nên, giờ nhìn mẹ với thằng em cứ thi thoảng cãi nhau, mình thấy ngài ngại nên cũng không xen vào được. Xét cho cùng, ai coi nhiều phin Hollywood thì cũng hiểu, lũ trẻ 15, 16, 17, 18 là thể loại con nít bất trị nhất. Chúng là những hình mẫu vốn trở thành kinh điển trong văn học: Bắt trẻ đồng xanh, Như không hề có, Ngựa chứng đầu xanh… Chúng là thể loại thanh thiếu niên mà chúng ta vẫn thường hay thấy trong màn ảnh rộng: khoái đội mũ trùm, đeo tai nghe in-ear, rúc mình trong phòng, cãi nhau không lại thì nhét tai nghe vào rồi ngoe nguẩy bỏ đi, lúc nào cũng nhoay nhoáy bảo: “Bố mẹ để cho con yên được không”.

Kể cả năm 18 mình có là một đứa trẻ ngoan, mình cũng khó lòng có thể bảo gì với thằng em khi mẹ nhờ vả: “Thỉnh thoàng con khuyên nó dùm mẹ cái đi”. Lời khuyên là thứ vô hình tựa như sương của tuổi 17, và nó sẽ tiếp tục stay invisible cho đến khi những vấp ngã bắt đầu ùa đến, ở độ tuổi khoảng 24, 25, may ra thì sớm hơn vài năm. Khi bắt đầu được bước vào đời bằng đôi chân của mình, những đứa trẻ đã-từng-17 rồi sẽ hiểu tất cả những chiếc gai nhím mình từng xù lên trong quá khứ đều chỉ là giả tạo, vô ích, buồn cười và phi nghĩa.

Và, xét ở thế ngược lại, những bó buộc, kìm hãm, khuyên răn, nỗ lực đến tuyệt vọng của các bậc phụ huynh khi có con ở độ tuổi này, cũng gần như là phi nghĩa. Nhưng dĩ nhiên, dù sao nó vẫn là điều cần thiết, những lời mắng ấy, những cằn nhằn ấy, nó giống như là một vòng cương tỏa đầy tính răn đe bao bọc lấy tuổi trẻ, để con chim không thể xổ lồng mà bay, và chết dưới mũi tên của những tay thợ săn khi vẫn còn ngờ nghệch chẳng hiểu gì về cuộc đời.

Căn bản thì em mình vẫn là một chàng trai ngoan. Ít ra thì mình vẫn vui vì điều đó. Nó chỉ khó chịu khi phải bắt đầu đương đầu với quá nhiều biến chuyển của đời sống, và nó chỉ chọn lọc hấp thu lấy những gì khiến mình cảm thấy thư thái, dễ chịu nhất. Mọi đứa trẻ ở độ tuổi này, dù trong đời thực, văn học hay Hollywood đều như thế. Thật khó để nuốt trôi cái quan niệm rằng thuốc đắng thì dã tật, giờ chịu cực sau này sẽ sướng… vân vân và vân vân. YOLO mà, sao phải sống khổ cực và làm những thứ mình không thích, ăn như thứ mình ghét, coi những thứ mình khinh thường làm gì? Để làm gì, câu trả lời đó không phải cứ buông từ miệng của một người đi trước là có thể giải quyết được. Không. Chúng phải tự tìm lấy.

Chỉ vài tháng nữa là em mình phải thi đại học. Mình ủng hộ nó tìm kiếm một cuộc sống riêng, ra ngoài ở trọ và bắt đầu thoát ly khỏi những vòng cương tỏa. Dĩ nhiên rồi, năm 18 tuổi thì đó là thứ khao khát nhất của đời mình mà, sao mình lại có thể ngăn cản nó trong giây phút này được. Từ lúc đó đến giờ, đã 10 năm, dẫu 10 năm trôi qua thì vẫn chẳng có gì thay đổi, tuổi trẻ vẫn muốn sống theo cách của mình, và đó là cách duy nhất để lớn khôn. Mình ủng hộ nó tự thu xếp mọi chuyện, mình ủng nộ nó sống bầy hầy, mình ủng hộ nó sống trong những căn nhà tập thể 10, 11 người, mình ủng hộ nó chong đèn trước vi tính chơi game, chat sex, suốt đêm suốt sáng, mình ủng hộ nó đi bar, long nhong ngoài đường đến lúc bình minh mới trở về nhà, mình ủng hộ nó làm tất cả mọi thứ để có thể lớn khôn và trưởng thành hơn. Sau tất cả chuyện đó, một trong số chúng ta sẽ hiểu được rằng đâu là giá trị quý nhất mà mình cần theo đuổi. Và rồi, thật đáng buồn nếu có một số không nhận ra, tiếp tục chìm đắm trong 5 năm, 10 năm, 20 năm vào những thứ khiến mình khuây khỏa trong khoảng thời gian đầu tiên của tuổi trẻ đó. Âu cũng là số phận của mỗi người.

Tuổi trẻ và những nổi loạn là một cái hố bất cứ chúng ta ai cũng phải nhìn thấy và vượt qua. Một số người chọn cách đi đường vòng hoặc nhảy vượt lên nó để tránh khỏi những tai ương lẫn hạnh phúc mà nó mang lại. Số còn lại chọn cách đi xuống hố, rồi tìm cách trèo lên. Có người thoát ra được, và cũng có người vĩnh viễn không thể rời khỏi đáy hố, tiếp tục chìm sâu xuống vũng lầy mà chúng ta mắc phải. Nhưng có hề gì, liệu những hiểm nguy của cái hố có phải là thứ khiến chúng ta phải chùn bước, không với tay tới những gì tuyệt vời và rúng động mà nó có thể mang lại hay không? Nếu được cho một lời khuyên, mình vẫn khuyên rằng hãy đi thẳng xuống miệng hố, vùng vẫy trong đó, và rồi tìm cách thoát lên. Bởi những kẻ được đào luyện bởi cái hố đó, sẽ thành công hơn nhiều những người tìm cách nhảy qua

Lung linh Sài Gòn và tham vọng của Ngọc Sương

Nói tham vọng nghe hơi ghê, nhưng cũng không phải là không đúng.

http://dantri4.vcmedia.vn/j2ss7Ldngmz50AuxF7FR95yiZNlVN/Image/2014/12/2/gs1-c9af4.jpg

Mình vốn là “fan cứng” của các thể loại show diễn cabaret, nên khi nghe nói Lung linh Sài Gòn vừa được thương hiệu nhà hàng Ngọc Sương ra mắt với ý định trở thành một điểm đến quen thuộc ở TP. HCM cho các du khách quốc tế, thì không tránh khỏi nghĩ ngay đến những chương trình tương tự như Tiffany hay Alcazar show của Thái Lan.

Dĩ nhiên, việc so sánh một show diễn lâu đời của một đất nước vốn nổi tiếng là màu mè và lắm trò với một chương trình ca múa nhạc tạp kỹ vừa ra mắt ở VN có thể sẽ hơi khập khiễng, nhưng cái giá 500.000 đồng/ người (kèm nước) mà Ngọc Sương đưa ra sẽ khiến bất cứ ai bỏ tiền ra mua cũng có quyền đòi hỏi một show diễn thật chất, thật “ăn, thật đã mắt, sương tai và không khỏi trầm trồ khi ra về. Nhưng hiển nhiên là, mọi thứ sẽ không hề suôn sẻ đến vậy.

Cấu trúc chương trình của Lung linh Sài Gòn không thể gọi là dở, nó đúng theo hình mẫu chung của những gì mà một show diễn cabaret cần có: ca hát, nhảy múa, trình diễn thời trang, hóa trang… v.v… Chỉ có điều, Ngọc Sương dường như vẫn còn hơi thiếu (phải nói là quá thiếu) kinh nghiệm trong việc tổ chức một chương trình giải trí, cộng với việc không có được sân khấu của riêng mình (mà phải đi thuê), từ đó dẫn đến việc lọng cọng trong quá nhiều khâu, không xử lý tốt được những chi tiết nhỏ nên dễ gây mất cảm tình với khán giả.

http://images.thegioivanhoa.com.vn/medias/2014/12/IMG_6675-e1419393222454.jpg

Những điểm “được” của Lung linh Sài Gòn.

+ Không gian ổn: Lung linh Sài Gòn được tổ chức hàng tuần tại Queen Hall, một địa điểm khá quen thuộc. Nói chung chỗ này vừa đủ ấm cúng để gợi cảm giác thân mật, vừa đủ to cho những show diễn hoành tráng, rất hợp. Do muốn tổ chức chương trình biểu diễn kết hợp với việc ăn uống (Ngọc Sương mà) nên LLSG có ghế ngồi dạng bàn ăn (mặc định là 1 bàn 4 ngồi). Bên dưới khán dài tối tối, bàn ăn vuông và ghế nệm thoải mái, trên mỗi bàn có 1 chiếc đèn nhè nhẹ, nói chung không gian trông có vẻ rất lảng mạn và lý thú, thích hợp cho các cặp tình nhân và gia đình.

+ Chương trình đa dạng: LLSG có nội dung với cấu trúc 2 phần. Phần đầu là những màn trình diễn đậm màu quê hương với áo tứ thân, áo dài và những bản tình ca xứ Huế, những bản nhạc quê hương, show diễn thời trang đồ dân tộc. Phần hai là những tiết mục mang hơi hướm phương Tây, trong đó có nhạc kịch và chuỗi hóa trang liên hoàn cùng với màn biểu diễn carnival lông chim lông ngỗng chốt show, một hình ảnh rất thường thấy trong các chương trình cabaret.

+ Đồ ăn ngon: Phần này chắc khỏi review vì đồ ăn của Ngọc Sương thì khá ổn, hơi đắt nhưng cũng ko gọi là đắt quá so với mặt bằng giá hiện nay. Thức uống hơi kém đa dạng nhưng cũng không đến nỗi.

+ Location: ổn. Dù ở Q. 4 nhưng cũng ngay sát Q. 1, dễ đi, không có vấn đề gì.

http://nguoidothi.vn/timthumb.php?src=http://nguoidothi.vn/media/files/trungdung/t12-2014-2/3/_MG_8840%20(1).jpg&a=c&w=720

Những điểm chưa được:

+ Chương trình thiếu mạch lạc: Ngọc Sương cần tìm một đạo diễn chắc tay hơn nữa để điều phối LLSG cho thật tốt, nếu có ý định muốn duy trì show diễn lâu dài. Một chương trình có chuyên nghiệp hay không thường phụ thuộc vào quá trình “chuyển cảnh”. Phần chuyển càng smooth chứng tỏ mọi thứ càng suôn sẻ, còn chuyển giữa tiết mục này với tiết mục kia mà lóng ngóng quá là… hư. LLSG mới diễn có mấy buổi, có thể tha thứ được khi mọi thứ còn va vấp, nhưng đã có va vấp chứng tỏ chương trình không có đạo diễn chuyên nghiệp (hoặc chuyên nghiệp nhưng làm việc cẩu thả). Không gian đêm diễn thỉnh thoảng bị trống thời gian rất nhiều, hậu đài đẩy đồ đạc trên sân khấu tới lui rất tự nhiên như không, không cần giấu diếm, diễn viên chờ diễn đứng lấp ló trong cánh gà tùm lum tà la, nói chung tạo cảm giác rất… cây nhà lá vườn.

+ Ánh sáng quá… nản: Ánh sáng là một trong những khuyết điểm rất thường mắc phải khi những người không chuyên đi làm show ở một địa điểm lạ. Vừa không chuyên vừa không quen cấu trúc sân khấu, địa hình nên đèn của LLSG đánh sáng tùm lum tà la. Đèn xanh đèn đỏ đèn nâu chiếu tá lả, đèn follow chạy cà giựt cà giựt, mặt ca sĩ diễn viên phần lớn đều tối hù hù, chỉnh thỉnh thoảng có một vài tiết mục được đầu tư tốt, còn lại thì đèn đánh tán loạn, coi rất khó chịu.

+ Bố cục sân khấu sơ sài: Điểm yếu của Ngọc Sương trong mặt này là không có được một sân khấu/ nhà hát của riêng mình mà phải đi thuê, chính vì vậy mà các trang thiết bị, đạo cụ, thiết kế sân khấu sau đêm diễn phải tháo về, rồi đến giờ diễn tuần sau phải đem đến gắn vào tiếp. Có lẽ vì vậy mà phần này được đầu tư rất kém. Show diễn gần như không có phông màn gì cả ngoài một màn hình led chiếu hình lung tung ở phía sau, gọi lung tung là vì mình thấy cả việc chọn hình/video/ hiệu ứng để chiếu cũng rất lam nham. Hai bên sân khấu có hai cây cột và hai bậc cầu thang đi lên, và hết. Mọi thứ hầu như đều là màu trắng, không có gì đầu tư. Đó là chưa kể sân khấu dơ ơi là dơ, bụi ơi là bụi, mình ngồi sân khâu từ đầu đến cuối nhìn bụi trên sàn diễn mà xốn hết cả hai con mắt, chẳng biết làm sao.

+ Đồ diễn: Phần carnival cuối thiết kế đồ ghê quá. Nên bỏ tiền đầu tư gấp đôi, hoặc gấp ba. Mục này ăn khách ở chỗ càng hoành tráng càng tốt, trong khi đồ của LLSG vừa thiếu rực rỡ lại nhìn rất lỏng lẻo, model mặc đi ra mà cứ phải vịn vịn vì sợ rớt.

Nói về những thứ chưa được thì còn rất nhiều, nhưng không muốn bị mang tiếng dập chương trình, nên thôi, hehe. Thực ra mình vẫn ủng hộ NS tiếp tục phát triển LLSG để trở thành một show cabaret không-thể-không-xem của các du khách quốc tế khi đến Việt Nam, nhưng xem ra điều này vẫn còn hơi xa. Hôm nọ mình đi xem Noel mà chương trình vẫn hơi vắng, có lẽ NS vẫn còn phải “gồng” và thay đổi rất nhiều để show diển trở nên đắt khách hơn.

Một số gợi ý của mình để LLSG có thể khá khẩm hơn

+ Nên tìm một đạo diễn thật tốt và chuyên nghiệp để dựng lại chương trình, chạy rehearsal thật nhiều để không bị lọng cọng. Vài tháng đổi cấu trúc nội dung một lần.

+ Đào tạo và sở hữu một đội ngũ ca sĩ/ vũ công riêng chứ đừng đi thuê. Hiện giờ (theo mình đoán), hầu hết chỉ là diễn và nhận cát xê. Điều này sẽ khiên NS không được chủ động và thiếu hẳn đi phần training, đào tạo của riêng mình, thiếu cái chất riêng, thứ vốn rất cần thiết cho các chương trình cabret. Show cabaret thực tế không cần người nổi tiếng, chỉ có chịu diễn, có thần và sáng sân khấu.

+ Bố trí lại không gian sao cho gọn gàng hơn, sạch đẹp hơn. Sân khấu hiện tại của Queen Hall quá rộng mà LLSG gần như chỉ dùng 1 phần, các phần khác để trống không đụng đến nhìn rất lem nhem và cẩu thả.

+ Trước mỗi chương trình nên cử một đoàn người đi lau sàn, trời ơi, nghĩ tới là thấy xốn mắt rồi.

+ Tìm người thiết kế và đánh đén lại cho tốt. Show cabaret ăn tiền ở chỗ cái mặt diễn viên, nghệ sĩ phải sáng đó, càng sáng bừng bừng càng tốt.

+ Hạ giá xuống phân nửa (hoặc thấp hơn) để hút khách và buil lượng khách quen trước rồi từ từ tính chuyện tăng giá sau. Hoặc giữ nguyên giá nhưng phải build lại chương trình thật “đỉnh”, sau đó relaunch và họp báo lại một lần để báo chí và influencer thấy được sự công phu của chương trình.

Góp ý thì còn nhiều nhưng chỉ nói vậy thôi, dù sao cũng chỉ là một tiếng nói nhỏ bé hiu hiu.

Cân bằng mong manh

Cũng lâu rồi ko viết gì (cho riêng mình), nhưng quyển sách này đã khiến mình muốn triết lý một chút.

https://fbcdn-sphotos-b-a.akamaihd.net/hphotos-ak-xap1/t31.0-8/p720x720/1781841_10204721618338393_56547451824100941_o.jpg
Cân bằng mong manh là quyển sách khá dày của nhà văn người Ấn Độ Rohinton Mistry. Viết về lớp người nghèo nước Ấn trong một thời kỳ đầy biến động (thập niên 1970), cảm giác đầu tiên mà tác phẩm tạo ra cho mình là sự liên tưởng đến Triệu phú khu ổ chuột, một quyển sách khác cũng rất xuất sắc về quốc gia này.

Tuy nhiên, có nhiều khác biệt đã biến Cân bằng mong manh thành một quyển sách đặc biệt, bởi nó cất lên tiếng nói và nỗi đau của những người nghèo một cách vô cùng bình thản, điềm tĩnh, thông suốt mà cũng có phần rất… hoảng loạn. Nếu Triệu phú khu ổ chuột chỉ là một câu chuyện đơn sắc về một cậu bé suốt đời sống trong thống khổ thì Cân bằng mong manh lại mang đến cho nhân vật của mình sự bấp bênh giữa hy vọng và tuyệt vọng. Hạnh phúc đó, rồi khổ đau đó. Ngay cái lúc mà những người như Dina, Maneck, Ishvar hay Om đang bắt đầu chán nản với cuộc sống thì họ lại gặp ánh sáng của đời mình, rồi cũng chính ngay cái khi họ đang dâng trào hạnh phúc đó, tất cả lại dần dần lụi tắt. Tuyệt vọng và hy vọng như hai tảng đá đè nặng ở hai đầu của một chiếc bấp bênh mãi mãi không bao giờ cân bằng, và không bao giờ chịu đứng yên. Cái khoảnh khắc cân bằng nó mong manh như thể một sợi chỉ, và rồi, chỉ cần thở một cái thôi, người ta đã có thể thay đổi cục diện theo một hướng hoàn toàn khác.

Khi nhìn sự “đồ sộ” của CBMM lúc mới mua về, tôi nghĩ sẽ chẳng bao giờ mình có thể hoàn thành được nó (vì dạo này, tôi khá lười biếng), nhưng rồi vì một comment của một ai đó so sánh quyển sách với Suối nguồn, sự tò mò của tôi lập tức bị chọc khuấy và trỗi dậy. Làm quái gì có quyển sách nào hay bằng Suối nguồn được? Tôi không tin, và tôi đã đọc.

Thật khó để so sánh giữa CBMM và SN, nếu không phải là so sánh về mức độ dày của nó. Cái hay của quyển sách Ấn Độ này là nó không hề sặc mùi triết lý. Tất cả những câu chuyện mà Rohinton Mistry kể ra trong sách chỉ hoàn toàn bâng quơ, thoáng qua, nhẹ nhàng như cái cách mà người ta kể chuyện cổ tích. Nhưng rồi, khi chắp vá được những sự kiện, xâu chuỗi được những hành động, khán giả bằng đầu thấy được cái tứ của sự mong manh lồ lộ ra đâu đó trong quyển sách.

Ở phần đầu, Rohinton Mistry dùng khá nhiều thời lượng để mở bài bằng cách mô tả cuộc sống riêng rẽ của 4 nhân vật Dina, Maneck Ishvar và Om. Rồi từ từ, cuộc đời của họ bắt đầu hội tụ với nhau trong một xưởng may tư gia nhỏ, ở một thành phố nhỏ. Đoạn đầu sẽ khiến người xem có cảm giác hơi chán, bởi sự một màu trong tuyến tính cũng như câu chuyện, nhưng không phải vì vậy mà nó thiếu cao trào. trong cuộc đời của mỗi nhân vật đều có một cao trào nhỏ, mà đau đớn, trước khi họ đến với nhau. Với Dina, đó là cái chết của người chồng thương yêu. Với Maneck, đó là sự thay đổi của thành phố yên bình nơi cậu ở và một sự kiện hoảng loạn khác trong ký túc xá đại học, còn với Ishvar và Om, đó là cả một chuỗi bi kịch quá dài trong cuộc đời của những tiện nhân.

Thử tưởng tượng, đó là một cảm giác chua chát đến nỗi bạn không khỏi nhíu mày, nhăn mặt, buông quyển sách xuống và cố gắng hướng mắt mình về những khoảng không, để thở. Đó là những gì mà bạn phải làm, khi đọc đến nhưng cao trào rất kinh khủng trong quyển sách. Những nút thắt trong CBMM hiếm khi có sự chuẩn bị tâm lý trước, nó xảy ra đột ngột như một ngày đẹp trời nọ bạn đi đường, dừng đèn đỏ và bị một chiếc xe khác tông từ phía sau. Cú tông ấy đã lấy đi tất cả hy vọng hoặc tuyệt vọng, và thế vào đó những cảm xúc theo chiều kích ngược lại. Đó là cái cách mà thế giới trong quyển sách vận hành, và nó hoàn toàn tương đồng với cuộc sống thực.

Thật khó để nói về một quyển sách hay bằng những ngôn từ hạn hẹp và tầm thường của mình, cũng như rất khó để bày tỏ cảm xúc sau rất lâu ngày không viết (cho riêng mình). Tôi vẫn chưa biết nên xếp quyển sách này đứng thứ mấy trong danh sách 10 quyển sách yêu thích của mình, nhưng chắc chắn là một vị trí rất cao. Vì sao, CBMM giúp tôi hiểu được sự vô thường của cuộc sống, và thêm hy vọng mỗi lúc có niềm đau ập xuống đời mình, và cũng sẽ nhắc mình bớt tự tin khi trên đà chiến thắng. Nó là một quyển sách có tác dụng kìm hãi, níu chân bạn lại khi đã lên quá cao, và cứu vớt đời bạn khi chìm xuống quá thấp.

Đừng nghĩ rằng tất cả chúng ta rồi sẽ chỉ ngồi một chỗ, sống mãi phút giây này, làm mãi một việc, yêu mãi một người, ăn mãi một món, uống mãi một ly. Đừng sợ thay đổi mà không tiến lên, như trong một đoạn mà Om và bác Ishvar trách móc nhau khi đón nhận những đòn thù tuyệt vọng điên rồ nhất phủ xuống đời mình.

– Tại bác cả đấy, nếu bác không nằng nặc đòi cưới vợ cho cháu thì mọi chuyện đau ra nông nổi này.
– Thế mày muốn sống cả đời ở cái hành lang đấy chắc?

Tất cả chúng ta đều sẽ phải vấp những chiếc bập bênh hy vọng và tuyệt vọng ấy trong đời. Quan trọng là đừng-sợ-hãi.

Cà phê và Sex là tôn giáo của anh